ARRIVAL: NGÔN NGỮ

Bài này quá hay, nên mình xin phép lưu lại trên blog để dành.

Tác giả : https://www.facebook.com/butchi13

Đây không phải là loạt review về bộ phim Arrival. Đây là vài ghi chép về những gì hay và đẹp nhất mà Arrival đã chạm đến. Dành tặng bạn, người đọc đủ duyên.

Bút Chì, 1/2017

“Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời”. Sách Phúc Âm John đã mở đầu như thế. Ngôi Lời (“Word”, hay “Logos”) được các nhà thần học Thiên Chúa Giáo coi là điều bí ẩn thiêng liêng và là đồng nhất với đức Giê-su (1). Các triết gia Hy Lạp cổ đại coi Logos là nguyên lý nền tảng của logic, biện luận và tri thức (2). Thế còn các nhà sử học/nhân học thì sao?
70,000 năm trước, Homo sapiens không phải là loài người duy nhất trên trái đất. Cùng chia sẻ hành tinh này ở thời điểm đó còn có Homo Rudolfensis (Đông Phi), Homo erectus (Đông Á), và Homo neanderthalensis (Châu Âu và Tây Á). Nhưng Homo sapiens là loài duy nhất đã trải qua cuộc Cách mạng Nhận thức (the Cognitive Revolution).
“Đâu là nguyên nhân của cuộc cách mạng này? Không ai biết chắc cả. Lý thuyết phổ biến nhất cho rằng đây là một sự đột biến gen ngẫu nhiên đã tác động đến cấu trúc não bộ của Sapiens, khiến họ có thể tư duy theo cách chưa từng có và giao tiếp bằng một ngôn ngữ hoàn toàn mới. Chúng ta có thể gọi đây là đột biến Cây Tri Thức (Tree of Knowledge mutation). Tại sao nó lại xảy ra với DNA của loài Sapiens thay vì xảy ra với loài Neanderthals? Ở mức độ hiểu biết hiện tại của chúng ta, đây chỉ hoàn toàn là sự ngẫu nhiên (it was the matter of pure chance). Nhưng việc nhận thức hậu quả/kết quả của đột biến Cây Tri Thức còn quan trọng hơn cả việc hiểu được nguyên nhân của nó. Điều gì đã khiến cho ngôn ngữ mới của loài Sapiens đã giúp chúng ta thống trị thế giới?”

“Câu trả lời phổ biến nhất: vì ngôn ngữ của chúng ta hết sức linh hoạt. Chúng ta có thể nối một số hữu hạn các âm thanh và dấu hiệu để tạo ra một lượng vô hạn các câu, mỗi câu mang một ý nghĩa khác nhau. Chúng ta nhờ đó có thể thẩm thấu, lưu trữ và trao đổi một lượng thông tin lớn phi thường về thế giới chung quanh. Một con khỉ có thể hét lên với đồng đội của nó: “Cẩn thận! Sư tử!”, nhưng một con người có thể nói với bạn của cô là sáng hôm nay, gần bờ sông, cô nhìn thấy một con sư tử đang lần theo dấu vết của lũ bò rừng. Từ đó cô có thể miêu tả chính xác địa điểm, bao gồm nhiều đường hướng có thể dẫn đến khu vực đó. Với thông tin đó, các thành viên trong nhóm của cô có thể cùng nhau thảo luận xem liệu họ có nên đến bờ sông, đuổi con sư tử đi và cùng săn bò rừng.”
“Lý thuyết thứ hai đồng ý rằng ngôn ngữ đặc thù của chúng ta phát triển như một phương cách để chia sẻ thông tin về thế giới bên ngoài, nhưng thông tin quan trọng nhất cần chia sẻ không phải là về sư tử hay bò rừng, mà là về con người. Ngôn ngữ của chúng ta tiến hoá như một cách tán gẫu/tám chuyện. Theo lý thuyết này thì Homo sapiens chủ yếu là một loài động vật xã hội (social animal). Hợp tác xã hội là chìa khoá của việc sinh tồn và duy trì nòi giống của chúng ta. Hoàn toàn là không đủ cho các cá thể đàn ông hay phụ nữ nếu họ chỉ biết vị trí của sư tử hay bò rừng. Quan trọng hơn rất nhiều là việc họ biết được ai đang ghét ai, ai đang ngủ với ai, ai đang trung thực và ai là kẻ bịp bợm.”
“Nhưng điều thực sự đặc sắc trong ngôn ngữ của chúng ta không phải là khả năng truyền tải thông tin về người hay sư tử. Mà thực ra, đó là khả năng có thể truyền đạt thông tin về những điều không hề tồn tại. Ở chừng mực hiểu biết của chúng ta, chỉ duy nhất Sapiens là loài có khả năng nói về những thực thể mà chúng chưa từng thấy, chưa từng chạm hay ngửi.”
“Huyền thoại, truyền thuyết, các vị chúa trời hay tôn giáo chỉ bắt đầu xuất hiện từ khi có cuộc Cách mạng Nhận thức. Rất nhiều các loài động vật và người khác có khả năng nói: “Cẩn thận! Sư tử đấy!”, nhưng Homo sapiens là loài duy nhất có khả năng nói, “Sư tử là linh hồn bảo vệ của bộ lạc chúng ta.” Khả năng nói về những điều hư cấu là điểm đặc biệt nhất của ngôn ngữ loài người.”

Khả năng nói về những điều hư cấu là điểm đặc biệt nhất của ngôn ngữ loài người.

“Khá dễ dàng để đồng ý rằng chỉ duy nhất Homo sapiens có thể nói về những điều không tồn tại, và tin vào sáu điều bất khả trước bữa ăn sáng. Bạn không bao giờ có thể thuyết phục một con khỉ đưa cho bạn một trái chuối bằng việc hứa với nó về vô số chuối đang đợi nó trên thiên đàng của khỉ. Nhưng tại sao nó lại quan trọng? Hư cấu có thể tạo phiền nhiễu và gây mê lầm. Đám người xông vào rừng để tìm các tiên nữ hay kỳ lân sẽ có ít cơ hội sống sót hơn đám người đi hái nấm và săn hươu. Và nếu bạn bỏ ra nhiều giờ liền để cầu khấn một linh hồn bảo vệ không-tồn-tại nào đó, chẳng phải là bạn đang lãng phí thời gian quý giá, thời gian mà đáng lẽ nên được dùng vào việc đi săn bắn, chiến đấu và làm tình hay sao?”

Nhưng hư cấu không chỉ giúp chúng ta tưởng tượng ra các thứ, mà giúp chúng ta làm thế cùng nhau.

“Nhưng hư cấu không chỉ giúp chúng ta tưởng tượng ra các thứ, mà giúp chúng ta làm thế cùng nhau. Chúng ta có thể thêu dệt nên các huyền thoại chung như Sáng Thế Ký trong kinh thánh, hay truyền thuyết Thời gian trong Mộng của thổ dân Úc, hay chuyện hoang đường về các quốc gia hiện đại. Những huyền thoại như thế đã cho Sapiens một khả năng vô tiền khoáng hậu trong việc hợp tác một cách linh hoạt với số lượng khổng lồ. Kiến và ong cũng có thể làm việc cùng nhau với số lượng lớn, nhưng chúng chỉ làm như thế bằng một số cách thức rất nghiêm ngặt và chỉ với một vài họ hàng gần gũi. Sói và tinh tinh có thể hợp tác linh hoạt hơn kiến, nhưng chúng chỉ có thể làm thế với một số ít cá thể mà chúng thân thuộc. Sapiens có thể hợp tác với nhau siêu linh hoạt theo vô số cách với vô số cá thể xa lạ. Đó là lý do Sapiens thống trị thế giới, trong khi kiến ăn thức ăn thừa của chúng ta và tinh tinh thì ngồi trong sở thú hoặc trong các phòng thí nghiệm.” (3)
Quay lại phim Arrival, giờ thì chúng ta đã hiểu tại sao người Heptapods nói rằng con người có ngôn ngữ như là vũ khí/công cụ/phương tiện/sức mạnh. Bởi vì cùng một lúc, đó là tất cả các vai trò của ngôn ngữ. Ngôn ngữ kiến tạo và ngôn ngữ phá huỷ. Ngôn ngữ chia cắt và ngôn ngữ nối kết. Khi đổi ngôn ngữ, chúng ta đổi cách tư duy, đổi cách nhận thức. Toàn bộ thế giới – theo nghĩa rộng nhất của từ “thế giới” – thay đổi. Thế nên ta hãy cẩn trọng hơn, và trân trọng hơn, ngôn ngữ mà ta dùng.
Nếu đi xa hơn ngôn ngữ, chúng ta gặp Vô Ngôn của Phật giáo, gặp cái điên của Bùi Giáng, gặp những khoảng lặng im giữa các nốt nhạc. Đi xa hơn ngôn ngữ, chúng ta phải nhìn, nghe, chạm, ngửi, nếm bằng trái tim, để ôm ấp “những điều cốt lõi” (“the essential things” – Hoàng Tử Bé). Cho đến lúc đó, hãy cùng nói về thời gian.
“Hãy thử tưởng tượng một cuộc sống không-đếm-giờ. Khả năng cao là bạn không thể. Bạn biết bây giờ là tháng mấy, năm nào, ngày nào trong tuần. Có một chiếc đồng hồ trên tường nhà bạn hay trên màn hình xe bạn. Bạn có một thời gian biểu, một cuốn lịch, một thời điểm định trước cho bữa tối hay việc xem phim. Nhưng xung quanh bạn, chẳng ai màng đến việc đếm giờ. Lũ chim không bao giờ đến muộn. Bọn cún không xem đồng hồ. Đám hươu nai không cáu nhặng lên vì lỡ mất ngày sinh nhật. Chỉ con người đo đếm thời gian. Chỉ con người đánh chuông báo giấc. Và, vì thế, chỉ con người chịu đựng một nỗi sợ hãi khủng khiếp mà không sinh vật nào khác phải gánh chịu. Nỗi sợ hết thời gian.” (1)
Thời điểm chúng ta bắt đầu đong đếm thời gian hẳn cũng không xa bao lâu sau cuộc Cách mạng Nhận thức. Trước đó, không có gì là quá muộn hay quá sớm. Mọi thứ đều xảy ra đúng thời điểm mà chúng cần xảy ra. Mọi sinh vật đều ăn, ngủ, giao phối và chết ở đích xác những lúc chúng cần như thế. Khi con người bắt đầu đếm, thì mới bắt đầu thấy mình có quá ít hay quá nhiều thời gian, tuỳ thuộc vào việc hắn đang đói hay đang no, đang sợ hãi hay đang ở cạnh bạn tình. Một cách đương nhiên, hắn muốn tăng thêm thời gian sung sướng và giảm bớt thời gian khổ sở. Đong đếm thời gian để định cư, để canh tác, để phát triển công nghệ, để đánh nhau và điều khiển lẫn nhau: hắn nghĩ rằng đếm được thời gian là làm chủ đời sống. Hắn không nhận ra một điều căn bản: rằng khi hắn sống thì hắn không đếm, và khi hắn đếm thì hắn không sống. Hắn vẫn đếm, vì đơn giản không thể làm gì khác được. Nhận thức về thời gian là một lời nguyền đối với con người.

Hắn không nhận ra một điều căn bản: rằng khi hắn sống thì hắn không đếm, và khi hắn đếm thì hắn không sống.

Chúng ta bước vào Arrival cùng thời điểm một đứa bé ra đời. Rồi đứa trẻ lớn lên, lớn thêm lên, rồi bệnh và chết. Cảnh trước: người mẹ thẫn thờ đi trong hành lang bệnh viện. Cảnh sau: người mẹ làm công việc thường ngày của bà – giáo sư ngôn ngữ ở một trường đại học. Nhận định của chúng ta: hẳn là bà mẹ đã vượt qua (hoặc cất đi) nỗi đau để tiếp tục sống. Chúng ta dễ dàng rơi vào bẫy của quán tính nhận thức, rằng thời gian là tuyến tính. Có trước, rồi mới có sau. Lần lượt, nối tiếp, không ngừng nghỉ. Đó là cách hiểu phổ biến và dễ dàng nhất về thời gian. Nhưng liệu đó có phải là cách hiểu duy nhất?
Người Heptapods có một nhận thức khác về thời gian. Ngôn ngữ của họ không có “thì”. Họ không nói: “Tôi đang thở” (hay “đã thở”, hoặc “sẽ thở”). Họ nói:
TÔI
THỞ
Tôi và Thở nối với nhau bằng một vệt khói tròn, hiện ra và tan đi nhanh như một làn gió. Bảo rằng “tan đi nhanh” có lẽ không đúng: vệt khói tròn tan đi ngay khi người đối diện nhận đủ thông tin – mọi thứ đều chuẩn xác và đủ đầy, không nhanh, không chậm. Bảo rằng họ “nói” hẳn cũng sai: “nói” là hoạt động phải diễn ra trong thời gian, để âm thanh đủ thời gian di chuyển và kết nối thông tin. Người Heptapods không nói, chỉ viết. Bởi tất cả thời gian đều đã ở đây rồi. Hàng tỉ năm trước hay ngày hôm qua, 5 năm sau hay 3000 năm nữa, tất cả đều có thể chạm vào được NGAY BÂY GIỜ, nếu bạn sử dụng ngôn ngữ của họ.

Hãy thử cân nhắc khả năng này: rằng thời gian không phải là một dòng chảy miên viễn, mà là MỘT THỜI ĐIỂM duy nhất được nhìn ngắm từ nhiều góc khác nhau và trải nghiệm theo nhiều cách khác nhau.

Hãy thử cân nhắc khả năng này: rằng thời gian không phải là một dòng chảy miên viễn, mà là MỘT THỜI ĐIỂM duy nhất được nhìn ngắm từ nhiều góc khác nhau và trải nghiệm theo nhiều cách khác nhau. Cái mà ta tưởng là dòng chảy thực ra chỉ là một bộ sưu tập khổng lồ các khoảnh khắc, mà mỗi khoảnh khắc chỉ là một phiên bản khác nhau của cùng một thời điểm, và không nhất thiết được nối với nhau theo một chu trình tuyến tính. Nhìn từ góc này, ta gọi là “quá khứ”, từ góc kia sẽ gọi là “tương lai”, trong khi tất cả đều là “hiện tại”. Giống như kênh VTV1 vẫn đang chiếu thời sự song song với phim Hàn Quốc trên VTV3 trong khi ta đang xem Planet Earth 2 trên National Geographic. Khi ta chuyển kênh, ta sẽ được đưa đến thời điểm tương ứng, nhưng thực ra ta vẫn chỉ đang ở thời điểm NÀY mà thôi. Ta chuyển kênh khi để mình đắm chìm vào một nỗi đau/niềm hạnh phúc trong quá khứ, hoặc ta sợ hãi/phấn khích trước một điều “chưa đến” từ tương lai. Ta chuyển kênh khi mở rộng cảm quan của mình, khi ta chạm vào nỗi niềm của người khác, khi ta di chuyển khỏi quán tính của ý thức để thể nhập vào những vùng hiểu biết rộng lớn hơn của tiềm thức và/hoặc siêu thức. Và, dù ta có nhớ hay không, tất cả các khoảnh khắc đó đều đang được quan sát và trải nghiệm BÂY GIỜ. Mọi thay đổi về nhận thức, thái độ, cảm nhận, và lựa chọn, đều xảy ra NGAY LÚC NÀY. Đó là toàn bộ ý nghĩa đằng sau cái được gọi là sức-mạnh-của-hiện-tại.
Thế thì tại sao con người lại lớn lên, lại già đi, lại chết? Tại sao vạn vật lại sinh rồi diệt? Nếu thời gian là ảo, tại sao mọi thứ lại có khởi đầu và kết thúc?
Khởi đầu và kết thúc của một cuộc tình, một sự nghiệp, hay chính cuộc đời chúng ta, là những trải nghiệm khác nhau mà ta nhận thức được là nhờ có thể xác hữu hạn này. Biết đâu, nếu lùi xa khỏi thân xác, chúng ta là một ánh nhìn bình thản quan sát mọi điều xảy ra với hiểu biết về vô thường và vô tận, với tất cả những kỳ diệu thiêng liêng mà người ta gọi là “Thượng Đế”, “Phật Tính” hoặc “Tình Yêu”? Biết đâu, thân xác sống/chết cùng thời gian này, dù đôi khi ta cảm thấy nặng trĩu như một lời nguyền, thực ra lại chính là ân huệ vĩ đại nhất mà vũ trụ đã dành cho ta?

Biết đâu, thân xác sống/chết cùng thời gian này, dù đôi khi ta cảm thấy nặng trĩu như một lời nguyền, thực ra lại chính là ân huệ vĩ đại nhất mà vũ trụ đã dành cho ta?

Và, khi ta nhận ra điều đó, khi ta có tất cả hiểu biết về thời gian, về điều thiêng liêng, về sự hữu hạn, ta sẽ sống như thế nào?
Như nhà khoa học Ian, để đáp lại câu hỏi của Louise, rằng “nếu anh có thể nhìn toàn bộ cuộc đời anh từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, liệu anh có muốn thay đổi gì không”, anh nói, “có lẽ anh sẽ bày tỏ những gì anh cảm thấy nhiều hơn”.
Như Rainer Maria Rilke, khi ông viết trong Thư gửi người thi sĩ trẻ tuổi: “Ở đây, thời gian không thể làm tiêu chuẩn đo lường. Một năm có kể gì; mười năm không là gì cả. Khi mình là nghệ sĩ thì có nghĩa là không tính toán, không kể số. Khi mình là nghệ sĩ thì có nghĩa là nẩy nở như một cây lá không hề bức thúc nhựa cây, đứng vững một cách tín thành trong tất cả những ngọn gió lớn của mùa xuân, không hề sợ hãi nao núng rằng mùa hạ không trở lại nữa. Mùa hạ nhất định sẽ đến. Nhưng mùa hạ chỉ đến cho những kẻ nào biết chờ đợi, chờ đợi một cách trầm lặng và cởi mở như là mình đã có cả vĩnh cửu trước mắt mình. Tôi đã học được điều ấy mỗi ngày bằng bao nhiêu cơn đau đớn, bằng bao nhiêu nỗi đau khổ mà tôi vẫn cảm tạ: Kiên nhẫn vẫn là tất cả.” (2)
Hay, như Bùi Giáng:
“Yêu nhau một phút cũng đành / Miễn là phút ấy chân thành yêu nhau”
————-
Khẩn cấp: người ngoài hành tinh đã xuất hiện ở nhiều điểm khác nhau trên trái đất, phi thuyền của họ treo lơ lửng trên trời như những viên sỏi hình bán nguyệt khổng lồ. Không ai biết họ từ đâu đến, họ đã đến bằng cách nào, và đến đây để làm gì. Vấn đề nghiêm trọng nhất: họ không làm gì cả.
Làm thế nào bây giờ? Nếu họ tấn công thì thật dễ: chúng ta chỉ cần tự vệ. Dù họ là những kẻ tàn bạo nhất dải ngân hà, những sinh vật thông minh quỷ quyệt nhất, những nền văn minh hùng mạnh nhất: chỉ cần họ tỏ ý muốn xâm lược trái đất, chúng ta nhất định sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Hãy cứ yên tâm: trong các bộ phim xưa nay về người ngoài hành tinh, cuối cùng bao giờ nhân loại cũng giành phần thắng. Nhưng đây là lần đầu tiên có một thể loại khách không mời từ vũ trụ lạ lùng như vậy: họ nhất định cứ treo lơ lửng trên đầu chúng ta và không làm gì. Giờ sao?
Arrival đã làm được một điều tuyệt đẹp: giữ cho điều bí ẩn được hoàn toàn bí ẩn. Dù ta có đề phòng hay sợ hãi: điều bí ẩn vẫn lặng im. Dù ta có phần nào hiểu được ngôn ngữ của họ: điều bí ẩn vẫn hiện diện. Dù ta có suýt tung ra tất cả hoả lực đang có: điều bí ẩn vẫn vẹn nguyên.

Họ ở đây để làm một việc thôi: nhắc ta nhớ về điều bí ẩn.

Albert Einstein khẳng định: “Điều đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể trải nghiệm được chính là cái bí ẩn. Đó là cảm thức nền tảng tạo nên cái nôi của nghệ thuật và khoa học chân chính. Kẻ nào không biết đến nó, không còn khả năng tự vấn hay kinh ngạc, kẻ đó có thể coi như đã chết, chết như một cây nến tàn… Với tôi, sự huyền bí trong cái vô tận của đời sống, cùng với chút hé mở về cấu trúc diệu kỳ của thực tại, cũng như sự nỗ lực hết mình để thấu hiểu một phần, dù rất nhỏ bé, của cái Uyên nguyên tỏa rạng trong cõi tạo hóa này, đã là đủ rồi.” (1)
Nhưng ta thường đối xử với cái bí ẩn như thế nào? Ta dựng hàng rào cao, ta huy động vũ khí, ta mặc giáp chống phóng xạ. Toàn bộ sự chú ý của chúng ta dồn vào quán tính tự vệ. Toàn bộ sự suy đoán của chúng ta hướng về giả thiết sẽ bị tấn công. Toàn bộ năng lượng của chúng ta dùng để chuẩn bị chiến tranh. Nhưng, như một tấm gương trong suốt, cái bí ẩn cho ta thấy: chiến tranh xảy ra không do đâu khác ngoài chính sự sợ hãi và chộn rộn trong mỗi con người. Cuộc sống không phải là một trò chơi có tổng bằng không. (Life is a non-zero-sum-game). Không ai khác tấn công chúng ta, ngoài chính chúng ta.
Rainer Maria Rilke tha thiết: “Ồ ước gì con người có thể cưu mang niềm bí ẩn này, trần gian gồm đầy bí ẩn ở ngay cả nơi những sự vật nhỏ bé nhất, ước gì con người có thể cưu mang sự bí ẩn ấy cho chính mình, cưu mang một cách khiêm cung, chịu đựng sự bí ẩn một cách nhẫn nại, cảm nhận bao nhiêu nan điểm của niềm cơ mật kia, thay vì nhận lấy điều huyền bí một cách bộp chộp, khinh suất.”(2)
Ước gì con người có thể đối diện với điều bí ẩn mà không cần mặc áo giáp. Trên thực tế, đó là cách duy nhất để làm điều đó: chúng ta chỉ có thể kết nối và thấu cảm cái bí ẩn bằng thân thể trần trụi và trái tim rộng mở. Henry Miller viết rất nhiều về điều đó: “Khoảnh khắc ta quan sát thật kỹ một điều gì, dù chỉ là nhánh cỏ, nó sẽ mở phơi một thế giới huyền bí, tuyệt diệu, lộng lẫy khó tả.” (3) Nhưng liệu đó có phải là cách mà chúng ta đang sống?
“Mỗi ngày ta đều đang giết đi những rung động vi tế nhất của mình. Đó là lý do vì sao ta lại thấy nhói đau khi ta đọc những dòng chữ viết bởi một bậc thầy nào đó và nhận ra chúng là của mình – những chồi non mà ta đã tự ngắt chỉ bởi ta không đủ tin tưởng vào sức mạnh của chính mình, vào đánh giá của riêng mình về sự thật và cái đẹp. Mỗi con người, khi y hoàn toàn im lặng, khi y trở nên tuyệt đối trung thực với bản thân mình, y có khả năng chạm đến những sự thật sâu xa nhất. Chúng ta đều khởi đi từ cùng một nguồn cội. Chẳng có gì bí ẩn về nguồn gốc của vạn vật. Chúng ta đều là một phần của tạo hoá, một phần của tất cả các hoàng đế, các nhà thơ, các nhạc sĩ; chúng ta chỉ cần mở ra, để nhận thấy những điều vốn đã ở đó từ lâu.” (4)

Chúng ta chỉ cần mở ra, để nhận thấy những điều vốn đã ở đó từ lâu.

Yên lặng, trung thực, mở phơi: rõ ràng đó không phải là điều đa số chúng ta đang làm.
“Chúng ta bày các phát minh phát kiến của mình ra khắp hành tinh, chưa từng cân nhắc khả năng rằng chúng không cần thiết, thậm chí còn gây hại. Chúng ta chế tạo nhiều phương cách liên lạc siêu phàm, nhưng chúng ta có đang giao tiếp với nhau hay không? Chúng ta di chuyển cơ thể mình trong không gian bằng siêu tốc độ, nhưng liệu chúng ta đã bao giờ rời khỏi điểm xuất phát? Tâm trí, đạo đức, linh hồn của chúng ta đều bị giam cầm. Chúng ta đã thu nhặt được gì khi san phẳng những rặng núi, rút năng lượng từ các dòng sông hùng vĩ, hay di chuyển cả một khối lượng dân cư khổng lồ như xếp đặt những quân cờ, nếu chúng ta vẫn cứ là những sinh thể bất an, khốn khổ, cạn kiệt như xưa? Coi như thế là sự tiến bộ thì thật là bịp bợm. Chúng ta có thể thành công trong việc biến đổi toàn bộ bề mặt trái đất, đến mức thậm chí Đấng Sáng Tạo còn không nhận ra, nhưng nếu bản thân chúng ta vẫn không suy chuyển chút nào, thì ý nghĩa của tất cả những việc đó là gì?”(5)

“Việc của ngươi không phải là tìm kiếm tình yêu, mà chỉ là tìm thấy và hạ xuống những hàng rào ngăn cách với tình yêu mà ngươi đã dựng lên trong lòng mình.” – RUMI

Điều bí ẩn, Sự sống, Thượng Đế, Tình yêu – gọi là gì cũng được – đang hiện diện quanh ta. Trong tất cả thời gian. Trong mọi dạng ngôn ngữ. Trong từng hơi thở phập phồng.
“Đời sống cứ tiếp tục diễn ra, dù chúng ta hành xử như những kẻ hèn nhát hay như những người hùng. Đời sống không có một quy luật nào khác ngoài việc chúng ta cần nhận ra và hoàn toàn chấp nhận đời sống một cách vô điều kiện. Tất cả những gì ta bàng quan, tất cả những gì ta chạy trốn, tất cả những gì ta chối bỏ, phỉ báng hay khinh miệt, rốt cuộc sẽ quay lại đánh bại ta. Những gì trông qua có vẻ dơ dáy, đớn đau, xấu ác, có thể trở thành nguồn cơn của vẻ đẹp, của phúc lạc, và của sức mạnh, nếu được đối diện bằng một tâm trí rộng mở. Mọi khoảnh khắc đều có thể trở thành hoàng kim cho những ai có đủ tầm nhìn để nhận ra điều đó.” (6)
Sài Gòn, giáp Tết Đinh Dậu, 2017
Bút Chì
Advertisements

One thought on “ARRIVAL: NGÔN NGỮ

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s