Vì sao người ta cắm mấy cái cột bê tông xuống sông

Mình đọc trong mục search, thấy có bạn nào tìm cái này, nên mình đi kiếm rồi post luôn, hi vọng bạn đọc được 😀

Có một lần mình về chùa Quan Âm Nam Hải ở Bạc Liêu, khu đó nhờ phù sa bồi đắp nên tăng diện tích rộng ra, nhưng nền rất yếu. Nên người ta mới trồng xuống đó các trụ bê tông ly tâm thì mới có thể tiến hành xây dựng. Những cột này sẽ đâm sâu vào nền đất đá bên dưới, giống y như việc lúc xây nhà thì bạn phải đào móng trước vậy.

cu tram
Đây là hình ảnh đóng cừ tràm trong xây dựng, ở khu vực sình lầy. Trước khi đổ bê tông móng lên trên.

Để hiểu rõ hơn, xin tham khảo bài viết bên dưới.

CÂU CHUYỆN VỀ TRẬN BẠCH ĐẰNG GIANG

Có lẽ trong lòng của người dân Việt Nam, 3 chữ “Trận Bạch Đằng” là một khái niệm vinh quang của dân tộc. Nhưng trận thủy chiến này không được dạy một cách cụ thể trong SGK. Để rồi sinh ra những giả thiết đôi khi lố bịch về trận chiến đó. Hôm nay tôi có viết gì, tôi vẫn nhận về mình như một “anh hùng bàn phím”. Đã là “anh hùng bàn phím” thì không là gì so với những bậc cha ông Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo: người anh hùng cầm quân thật sự. Đó là một khoảng cách vời vợi.

Bài viết hôm nay, chúng tôi sẽ dành cho các bạn. Nhưng trước khi bắt đầu, tôi muốn “tiền trách kỷ, hậu trách nhân” trước. Đầu tiên, các bạn có biết, có bao nhiêu trận chiến trên sông Bạch Đằng?

90% người dân Việt Nam chỉ biết có 2 trận: đó là trận Ngô Quyền năm 938 đánh quân Nam Hán, và trận Hưng Đạo đại vương đánh quân Nguyên Mông năm 1288. Nhưng 10% biết còn một trận đánh nữa ( hy vọng sau bài viết này sẽ tỉ lệ đó tăng lên một chút): trận năm 981 của vua Lê Đại Hành đánh quân Tống lần thứ nhất. Và trận này là trận thất bại.

Đấy chính là cái dở tệ của người soạn sử nước nhà. Luôn luôn ưa cái trò “tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại”. Quân ta thua thì nói quân ta rút lui chiến lược, quân địch thua thì bảo quân địch bỏ chạy.

Giờ kết quả như các vị thấy rồi đấy, một loạt vị đâu ra đi nghi ngờ tính xác thực của vụ cắm cọc nhọn trên sông Bạch Đằng rồi kìa. Cuộc sống là vậy, cuộc sống này vốn là thứ ma cô. Cho nên làm gì có ai tin tất cả đều là hoa hồng, tất cả đều là chiến thắng, tất cả đều đẹp đẽ. Chúng ta dạy thất bại là để con cháu rút kinh nghiệm cho thành công sau này. Chúng ta dạy thành công là để thêm yêu đất nước. Nhưng cứ dạy mãi hoa hồng thì sẽ dẫn đến tự sướng và lười biếng. Chúng ta dạy con em “Rừng vàng biển bạc”, cuối cùng giờ anh em nó đi phá rừng. Nhưng người Nhật dạy con cháu “Đất nước ta luôn bị thiên tai tàn phá, không có tài nguyên, nên con người cần cố gắng”.

Hãy tự trách bản thân mình trước, những người giáo dục sử học cho con em nước nhà.

Và bây giờ, đi vào chủ đề chính:

Đương nhiên, trong mọi vấn đề, cái gì ra cái đó. Không phải vì tôi không thích cách dạy sử hiện tại của giáo dục mà lại đi hùa vào sự ngớ ngẩn. Trong mọi vấn đề, chân lý là quan trọng nhất. Và hơn cả, nhiều sự lố lăng đến mức cho rằng nó không thật vì chế độ tự sướng. Xin lỗi. Môn khách của Hưng Đạo Đại Vương là Trương Hán Siêu viết bài phú sông Bạch Đằng từ thế kỷ XIII, Vua Trần Minh Tông về sau cũng viết bài thơ “Bạch Đằng Giang”, và đặc biệt Nguyễn Trãi – vị anh hùng dân tộc, cũng có bài thơ “Bạch Đằng Hải Khẩu”. Đó là những bằng chứng thép về trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng, nơi chôn xác quân xâm lược phương Bắc phạm vào chủ quyền nước nhà.

Trận Bạch Đằng là một khái niệm tự hào và vinh quang của dân tộc !

Và ta sẽ cùng đi vào sâu các chi tiết để biết thêm về mưu trí của cha ông, tài năng của cha ông hơn con cháu lởm khởm chỗ nào nhé.

1/ Sông Bạch Đằng hôm nay và ngày trước.

– Sông Bạch Đằng là một con sông chảy giữa thị xã Quảng Yên (Quảng Ninh) và huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng), cách vịnh Hạ Long, cửa Lục khoảng 40 km. Nó nằm trong hệ thống sông Thái Bình. Đây là con đường thủy tốt nhất để đi vào Hà Nội (Thăng Long ngày xưa) từ miền nam Trung Quốc. Đấy là lý do vì sao sông Bạch Đằng luôn là địa điểm của các trận giao tranh.

– Sông Bạch Đằng bây giờ sâu và rất rộng, nhưng 500- 700 năm trước, đây là một bộ phận của châu thổ sông Hồng. Vì thế, lòng chính sông không bị xâm thực, hình phễu, sâu rộng như bây giờ, nó nông hơn và hẹp hơn ngày nay. Mô tả của Nguyễn Trãi trong Dư địa chí là như sau: “Sông Vân Cừ rộng 2 dặm linh 69 trượng, sâu 5 thước”. Vì vậy, việc tồn tại một trận địa cọc chính cắm ngang qua dòng chủ lưu sông Bạch Đằng vào giai đoạn 500-700 năm trước là phù hợp với thủy văn, địa chất lúc đó.

2/ Tính khoa học trong việc cắm cọc trên sông Bạch Đằng.

– Huỳnh Phước Sang viết rằng:

“Để mình hỏi các bạn nha, các bạn ra một bãi sình tương tự lòng sông, các bạn lấy một cây cọc cỡ cây tre đóng xuống, rồi các bạn lấy một cái thau bằng gỗ hay nhựa nện lên cái đầu cọc phía trên xem cái thau có bị lủng hông hay cây cọc tiếp tục bị lún xuống sình???”

Thế này nhé, trong nền móng xây dựng có một khái niệm là móng cọc. Thường thì tại các nền đất yếu, nền đất sình lầy, ở các nhà dân miền Tây hay tại SaiGon, các bạn sẽ để ý thấy người ta hay đóng cừ tràm xuống, sau đó mới đổ bê tông móng lên. Bố trí khoảng 25cây/m2.
Tiếp tục, ở các khách sạn lấn biển tại Dubai. Nền móng được cấu tạo thế này: người ta bố trí một lượng lớn cọc ép xuống lòng cát. Sau đó mới đổ một khối móng bê tông phía trên.
Vậy những cái cọc đâm xuống đó có vai trò gì? Đó chính là cùng với đất sình, đất cát xung quanh kết dính lại với nhau, tạo nên một khối cứng
Cọc cừ tràm, cọc ở sông Bạch Đằng hay cọc ở Dubai, tuy mỗi thời mỗi khác, địa hình và sự hiện đại có thể khác nhau, nhưng đều thực hiện theo một nguyên lý khoa học căn bản. Đó chính là LỰC MA SÁT. Nếu chỉ có 1 cái cọc thì khi có lực lớn từ trên tác động xuống, nó sẽ dễ bị tụt xuống dưới sình. Nhưng với số lượng cọc chi chít dính sát vào nhau, nhờ lực ma sát, nó sẽ kết dính cứng ngắc lại với cát và bùn đất xung quanh, kể cả sình lầy đi chăng nữa, và qua đó, tạo thành một khối cứng bất biến hình. Cuối cùng biến địa chất đất yếu (cát lấn biển, hoặc sình) thành đất cứng.
Trong trường hợp cọc của hệ thống sông Bạch Đằng sẽ giống như cọc gỗ cừ tràm. Bên dưới bài viết này, tôi sẽ gửi cho các bạn xem cái bể nước đóng cừ tràm mà tôi làm 3 năm trước.

– Huỳnh Phước Sang nói tiếp “Với lại tàu thuyền đi đánh giặc hay đi buôn gì muốn vào một vùng sông hay bãi nào mới lạ đều phải cử thuyền nhỏ đi dọ thám tiền trạm xem đáy sông bãi bồi đồ thế nào rồi mới cho tàu lớn vào, nếu không mắc cạn chết luôn! Vậy cái bãi cọc của Việt Nam Anh Hùng đó lúc thuỷ triều xuống thì che mắt quân địch bằng cách nào cho nó khỏi thấy vậy, chắc cho mấy em thị nỡ ra múa cột hả???””

Như đã nói ở bên trên, vào thời kỳ sơ khai giữa hai nước. Cửa sông Bạch Đằng là con đường thủy tốt nhất để đi vào Hà Nội (Thăng Long ngày xưa). Hai nước lớn đánh nhau, điều tiên quyết là phải giữ chắc biên giới. Tình báo, mật thám đều cẩn mật, phòng ngự vòng trong, vòng ngoài, cấm các bang giao giữa hai bên. Không ai đi bô bô cái miệng, không ai cho phép tự do đi vào vùng biển cấm. Nên nhớ Trung Quốc khi kéo thủy quân qua là TẤN CÔNG vào cửa sông Bạch Đằng. Đương nhiên trước khi chiến sự xảy ra, quân dân nhà Trần hay Ngô Vương đã chuẩn bị từ trước đó 1 tháng. Tại sao lại đi dùng lý lẽ trẻ con nói chuyện quân sự?

3/ Vậy câu chuyện về trận chiến trên sông Bạch Đằng là như thế nào?

– Ta sẽ cùng nhau đi đến một điều đầu tiên mà sử sách không dạy, cũng là vấn đề mà nhiều “nhân sĩ giang hồ” đang nói chuyện: đóng cọc như thế nào ở lòng sông?
Thứ nhất: ta cần hiểu hoàn cảnh lịch sử của cha ông vào các năm 938 và 1288, điều kiện khoa học kỹ thuật thời đó rất nghèo nàn, không có máy đào, gàu ép, hay búa rung như bây giờ mà đưa sà lan ra rồi đóng ầm ầm. Ở đây phải đóng cọc gỗ lớn, lại là loại gỗ tứ thiết (đinh, lim, sến, táu), đường kính 200-500 tùy theo gỗ, và có chiều dài từ 7 thước đến 10 thước ngay trên sông.
Về nhân lực: đối với vua chúa ngày xưa, vấn đề này không quá quan trọng, huy động vài vạn quân đèo rừng, xuôi hạ lưu về bến sông, đưa ra trăm chiến thuyền thay phiên nhau đóng quân, không phải là vấn đề lớn.

Vấn đề là cách đóng cọc:

Trong hai đợt khảo cổ năm 1976, 1984, các nhà khảo cổ tìm thấy hai loại vồ đóng cọc lớn nhỏ khác nhau. Vồ nhỏ dài 1,2-1,3m, rộng 0,2m, đẽo đầu to đầu nhỏ. Loại vồ lớn hơn có chiều ngang 0,25m và dài 1,5m. Cả hai loại vồ này đều có mặt gỗ đóng vào cọc được vát phẳng để không bị trượt. Thời đó, quân Trần đã sử dụng kỹ thuật ròng rọc như chiếc búa máy để kéo chiếc vồ này lên cao và thả dộng xuống đầu cọc. Một đầu vồ vát nhỏ là để họ cầm điều chỉnh cho vồ đóng chính xác vị trí.

Tuy nhiên, giả thiết này chỉ có tác dụng vào năm 1288, đó là khi một số khoa học kỹ thuật về ròng rọc đã theo chân các lái buôn đi vào Đại Việt.

Nhưng vào năm 938 thì sao? Đấy là vấn đề. Nếu ta giải thích được năm 938, Ngô Quyền đóng cọc thế nào, thì một phần cọc của năm 1288 cũng được đóng y như vậy.

Cách đây vài năm, hội khoa học lịch sử Hải Phòng đã có nghiên cứu khoa học riêng cho việc đóng cọc trên lòng sông. Theo đó kinh nghiệm cắm cọc đáy của dân chài cha ông ngày xưa nằm ở 10 chữ: “Dây giữ cọc, cọc giữ dây, dây giữ phương tiện (thuyền)”. Nghĩa là vấn đề cắm cọc sâu hay nông, cọc to hay nhỏ không quan trọng bằng sự chắc chắn của cọc nháng và dây nháng (có vai trò đối với cọc gỗ như những chiếc đối với tàu thuyền, bè mảng). Thời điểm đóng cọc là đợi lúc thủy triều rút xuống, mực nước ở mức thấp nhất. Kỹ thuật cắm cọc như sau: cọc lớn được thả xuống sông, đầu gốc được nhấn chìm một phần xuống mặt bùn, phần ngọn buộc một sợi dây để giữ và điều chỉnh cọc. Thân cọc được dựng theo phương thẳng đứng với mặt nước, dây nháng tiền và hậu buộc ở thân trên giữ cho cọc không bị nghiêng ngả. Cũng tại phần trên này có que ngáng buộc ngang cọc để đỡ 1 hoặc 2 người đứng lên nhún nhảy và lắc ngang thân cọc, nhấn cọc chìm sâu dần. Khi cọc không xuyên xuống được nữa, thì tháo đoạn tre ra, buộc lên cao hơn và buộc thêm một đoạn tre nữa để không chỉ hai mà bốn người cùng lắc theo nhịp bao giờ cọc chìm dưới mặt nước triều một mức nào đó theo tính toán của các bô lão mới thôi. Nếu ở những luồng nước sâu, khi cọc sắp chìm xuống mặt nước thì ta đặt nối vào một đoạn cọc khác bằng cách ốp 4 nửa đoạn cây tre dài cỡ cái đòn gánh, lấy dây mây buộc thắt lại để cho người trèo lên lắc tiếp. Cho đến khi cọc đủ đứng chắc chân trong nền đất dưới đáy sông mới cởi dây mây ra, tháo đoạn cọc gá tạm đi, lắp nón sắt vào cọc, sau này sẽ có tác dụng đâm thẳng vào ván gỗ của thuyền địch (Chú ý thời đó thuyền không hoành tráng như bây giờ). Khi cọc cắm xuống độ sâu ổn định, chỉ cần thả dây hậu nháng và ghì thân cọc vào dây tiền nháng, vừa kéo lên và vừa lắc ngang, đẩy thân cọc xiên 45 độ về phía hướng rút của thủy triều.

4/ Điều gì biến Ngô Quyền và Hưng Đạo Vương trở nên bất tử với non sông ?

Để nói vấn đề này, ta cần nói về một trận chiến thất bại trên sông Bạch Đằng, đó là trận chiến của Lê Hoàn. Khi đó do tính toán sai vấn đề thủy triều lên xuống mà Lê Hoàn đã bị bại trận.

Điều khiến Ngô Quyền và Hưng Đạo Vương được gọi là danh tướng lẫy lừng, chính là việc tính toán được khả năng lên xuống của thủy triều, và dụ được địch đến nơi cắm cọc đã chuẩn bị sẵn. Thể hiện rõ tài của bậc cầm quân “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý”.

Ở lần đánh quân Nam Hán, kế chôn cọc nhọn này do Ngô Quyền sáng tạo ra đã dễ dàng đánh bại được “đứa trẻ” Hoằng Thao. Lúc ấy, quân xâm lược Phương Bắc đã tràn vào và dễ dàng mắc mưu. Nhưng lần thứ 2 thì khác. Hưng Đạo Vương phải dùng liên hoàn kế, chặn cửa biển, và chỉ chừa 1 cửa sông cho Ô Mã Nhi rút/. Ngoài việc chặn phía sau, còn dùng cả kế khích tướng khi giả vờ thua chạy mấy trận liên tục để kéo thuyền Ô Mã Nhi đến sát cửa sông Bạch Đằng thời điểm thủy triều sắp rút.
Ô Mã Nhi trúng kế khích tướng nên thúc quân ra nghênh chiến, các tướng Phàn Tham Chính, Hoạch Phong cũng ra tiếp ứng. Khi thuyền quân Nguyên đã vào sâu bên trong sông Bạch Đằng, tướng Nguyễn Khoái dẫn các quân Thánh Dực ra khiêu chiến và nhử quân Nguyên tiến sâu vào khúc sông đã đóng cọc.

Thời điểm mà cả Ngô Quyền và Hưng Đạo Vương cách nhau 300 năm cùng nghĩ tới, đó chính là khoảnh khắc cho quân quay đầu giao chiến đối đầu và đánh rát từ các hướng. Đấy là đưa quân chủ lực ập vào ở thời điểm THỦY TRIỀU RÚT XUỐNG. Thuyền ta là thuyền nhỏ, rất linh động, lại nắm vững địa hình sông, nhưng thuyền quân xâm lược là thuyền lớn (vì đi từ phương Bắc xuống cần đóng thuyền to), lại lạ lẫm địa hình đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai, đó là khi thuyền của của địch xoay mình để phòng thủ thì hệ thống cọc đã nổi lên bên trên do nước đã rút xuống, và biến nó thành BÃI ĐÁ NGẦM. Những cọc này không chỉ đục thủng đáy thuyền lớn (vì đã bọc sắt) mà còn gây tinh thần hoảng loạn của thuyền mắc cạn.

Lời kết:

“Từ có vũ trụ,

Ðã có giang san.

Quả là trời đất cho nơi hiểm trở,

Cũng nhờ nhân tài giữ cuộc trị an.

Hội nào bằng hội Mạnh Tân, có vương sư họ Lã,

Trận nào bằng trận Duy Thủy, có quốc sĩ họ Hàn.

Khi trận Bạch Ðằng mà đại thắng,

Bởi đại vương coi thế giặc nhàn.

Tiếng thơm còn mãi,

Bia miệng không mòn.”

(Trương Hán Siêu)

Phải, “bia miệng không mòn”, 700 năm rồi, bất chấp mọi cơ đồ nghiêng ngả, mọi miệng lưỡi thế gian. Sự vĩ đại của cha ông trên lòng sông này, con cháu ngàn đời không quên !

(Dũng Phan)

 

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s